Ảnh báo chí (phần mở đầu)

Đây là cuốn sách về nghiệp vụ ảnh báo chí rất bổ ích của cựu phóng viên ảnh Hãng Thông tấn AP Brian Horton được nhà nhiếp ảnh Trần Đức Tài dịch và giới thiệu,NXB TT ấn hành.

Hằng ngày, trên mặt báo, người đọc có thể tiếp nhận rất nhiều thông tin qua các bài viết, nhưng cái được mọi người quan tâm xem trước và hấp dẫn người xem nhất là những tấm ảnh chụp thực, kể lại được một câu chuyện nào đó cho mọi người, tức là trước hết ở giá trị thông tin của tấm ảnh.

Đó có thể là bức ảnh chụp ba người đang chống cự với sức mạnh của thiên nhiên khi cuồng phong dựng lên những đợt sóng thần cuốn phăng một ngôi nhà ra biển. Cơn thịnh nộ của bão táp đã được tóm giữ trong một bức ảnh của một nhà nhiếp ảnh không e ngại dầm mưa làm việc.

Đó có thể là bức ảnh chụp một cậu bé nhỏ xíu đang nghịch ngợm thử đẩy lùi đối thủ của cậu, một nhà đô vật Sumô. Đó chẳng hề là một khoảnh khắc lịch sử chấn động, nhưng là một bức ảnh vui khiến bạn bật cười.

Đó có thể là bức ảnh chụp hàng trăm ánh đèn flash đồng loạt nháy sáng khi những người hâm mộ muốn chụp ảnh danh thủ bóng chày Mark McGwire đang thực hiện một cú đập bóng kỉ lục. Để tường thuật câu chuyện, người phóng viên chụp bức ảnh này đã tư duy theo một hướng khác.

Đó có thể là bức ảnh, một ghi nhận chớp nhoáng, chụp một người lính đặc nhiệm Mỹ vũ trang đầy mình, vươn tay chụp lấy cậu bé Elian Gonzalez, người dân di trú Cuba. Bức ảnh ấy khơi gợi nhiều phản ứng cảm xúc từ công chúng ở cả hai phía đang có xung đột chính trị vì vấn đề này, và châm ngòi cho cả những cuộc tranh cãi gay gắt về sự can thiệp của chính phủ Mỹ nữa.

Đó có thể là bức ảnh, một chân dung thôi, chụp một cậu bé với bó hoa nhỏ trên tay đang trên đường đến viếng linh cữu mẹ Theresa. Đôi mắt cậu bé xoáy thẳng vào người xem ảnh.

Đó có thể là bức ảnh chụp một người thổi kèn túi cô đơn để lại những dấu chân trong sương mai khi anh sải bước trong sương mù sau một lễ tưởng niệm đầy xúc động dành cho một người chơi golf nổi tiếng vừa chết thảm. Người xem không thể không cảm nhận được nỗi buồn của khoảnh khắc ấy.

Đó có thể là bức ảnh, một dạng ảnh chân dung, chụp người sáng chế ra những đồ trang trí sân vườn hình chim hồng hạc, được bao quanh bằng chính những sản phẩm của mình. Một sự phê phán lối sống Mỹ.

Tất cả đều là ảnh báo chí.

Ảnh báo chí kể lại một câu chuyện bằng hình ảnh, tường thuật với chiếc máy ảnh, ghi nhận một khoảnh khắc trong thời gian, cái phút giây điển hình khi một hình ảnh đúc kết một câu chuyện. Henri Cartier-Breson đã gọi đó là “khoảnh khắc quyết định”. Niềm vui, nỗi buồn, thành công, thất bại, thanh thản, sợ hãi, chết chóc…,muôn mặt của cuộc đời chúng ta được thu giữ trên phim và trên những đĩa từ.

Ảnh báo chí không chỉ là một bức ảnh thời sự nóng chụp trong một cuộc chiến ở một chốn xa xôi, kì lạ. Thời gian và địa điểm chụp không làm thay đổi chất lượng một bức ảnh. Ảnh báo chí cũng có thể là một cuộc họp của hội đồng thành phố địa phương nơi các thành viên đang tranh luận về việc tăng thuế hay thông qua một luật định mới.

Ảnh báo chí không nhất thiết phải là một ảnh đăng trang bìa một tạp chí phát hành toàn quốc, chụp một pha gay cấn trong trận bóng tranh cúp quốc gia. Một bức ảnh chụp một đội tuyển học sinh, của bất kì trường trung học địa phương nào, đang thi đấu vì màu cờ sắc áo của địa phương mình, cũng chính là ảnh báo chí.

Không bắt buộc ảnh báo chí phải là một bộ phóng sự lớn về cuộc du hành bằng bè gỗ xuôi dòng sông Mê-kông, chẳng hạn. Ảnh báo chí cũng có thể chụp về những con người đang cố gắng làm mát dưới những vòi phun nước trong một ngày nóng bức ở thành phố của bạn.

Những nhà nhiếp ảnh chụp Tổng thống Mỹ hay chụp Thị trưởng một thành phố nhỏ, đều có chung nhiệm vụ : tường thuật chính xác các hoạt động của nhân vật này.

Những nhà nhiếp ảnh chụp vụ tấn công khủng bố vào nước Mỹ ngày 11/09/2001 khiến hàng nghìn người thiệt mạng hay một vụ cháy nhà khiến một gia đình mất nơi nương tựa, đều có chung nhiệm vụ : chuyển tải mức độ kinh khủng của sự kiện theo quan điểm nhân văn.

Những nhà nhiếp ảnh chụp những giây phút cuối cùng của trận chung kết World Cup hay chụp những giây cuối cùng của một trận bóng rổ ở trường trung học, đều có chung nhiệm vụ: thâu tóm được thực chất niềm vui của kẻ chiến thắng và những khoảnh khắc cô đơn cùng sự tuyệt vọng của những kẻ thua cuộc.

Dù lớn hay nhỏ, những khoảnh khắc ấy là thành phần mật thiết của lịch sử.

Trong từng trường hợp, địa điểm có thể khác nhau nhưng nhiệm vụ của ảnh báo chí luôn như nhau : thông tin , tường thuật, đưa cảnh tượng sự kiện đến với độc giả cho dù họ đang ở xa hàng nghìn cây số hay chỉ cách một góc đường. Ảnh báo chí giúp cho độc giả thấy được đôi điều mà có thể họ đã không có cơ hội chứng kiến tận mắt. Ảnh báo chí ghi lấy một khoảnh khắc lịch sử và gìn giữ cho tương lai.

Ai cũng đồng ý rằng cần phải có một đam mê đặc biệt thì mới thành công trong ảnh báo chí. Chính vì sự đam mê ấy sẽ nâng nhà nhiếp ảnh báo chí lên tầm cao của nền nhiếp ảnh thế giới.

Ông Mike Morse, Trưởng khoa Ảnh báo chí Đại học Western Kentucky nói : “Ngoài khả năng kỹ thuật ra, thành công trong nghề nghiệp chủ yếu ở ý thức trách nhiệm và lòng yêu nghề. Nhiều người xem bất kỳ công việc gì họ làm đều là một nghề mà họ muốn trở thành người giỏi nghề. Họ thật sự quan tâm đến điều đang làm và sự tận tâm ấy bộc lộ trong những bức ảnh của họ”.

J.Bruce Baumann, Phó tổng biên tập tờ The Courier and Press ở Evansville, bang Indiana cho biết, điều quan trọng nhất đối với người phóng viên ảnh là phải suy nghĩ trước hết như một nhà báo, rồi sau đó mới như một nhà nhiếp ảnh.

Baumann tin rằng thời buổi này các nhà nhiếp ảnh cần phải vươn rộng tầm hoạt động ra thì mới có thể vượt trội người khác. Ông nói :”Tôi thấy rằng dường như cốt lõi của nghề báo, cái lý do mà tôi bước vào nghề này, chính là tạo ra sự khác biệt, để thể hiện cuộc đời của những con người, niềm vui, nỗi sợ, hạnh phúc và sầu não của họ. Để nói cho thế giới biết điều gì đang diễn ra quanh họ.”

Theo Baumann, các nhà nhiếp ảnh cần phải “tìm kiếm ý tưởng mới, chủ đề mới, khai phá vùng đất mới, tìm kiếm những sự việc đang diễn ra”.

Từ loạt ảnh phóng sự của Matthew Brady chụp cuộc nội chiến Mỹ thế kỷ XIX cho tới phóng sự xã hội của Lewis Hine và Jacob Riis vào đầu thế kỷ XX, từ những loạt ảnh tư liệu của Walke Evans và Dorothea Lange trong những năm 1930 cho đến những bức ảnh trên tạp chí Life của các phóng viên ảnh W.Eugene Smith và Alfred Eisentaedt, cũng như những hình ảnh mang tính thử nghiệm cấp tiến của David LaChapelle và Nick Knight, chúng ta có cả một di sản nhiếp ảnh báo chí tốt đẹp của thế giới để xem xét và học hỏi.

Ta có thể rút ra nhiều bài học từ những nhà nhiếp ảnh đã tiên phong khởi xướng những phong cách nhiếp ảnh mà ngày nay được vô số nhà nhiếp ảnh chuyên chụp cho các tạp chí và nhật báo áp dụng.

Nhiều năm trước, một tập đoàn nhật báo đã cho chạy một quảng cáo với hình một nhà nhiếp ảnh mang trang phục chiến binh và dòng chú thích :”Đã sẵn sàng cho những bữa ăn nguội.” . Điều này hoàn toàn đúng với một phóng viên ảnh chiến tranh, nhưng cũng không sai đối với một nhà nhiếp ảnh chuyên săn những sự kiện địa phương.

Với người phóng viên ảnh, có những ngày để suy nghĩ đánh giá, có lúc bị sức ép của hàng trăm quyết định. Mình sẽ có mặt đúng chỗ không? Mình sẽ chụp được bức ảnh mình cần không? Mình sẽ chọn lựa đúng ống kính và thời điểm chụp phù hợp để thuật lại câu chuyện không? Khi khoảnh khắc đến, mọi điều mình đã học có trở thành công cụ giúp mình tường thuật được sự kiện mà mình đang đeo bám không?

Nữ phóng viên ảnh Amy Sancetta của Hãng thông tấn Asscociated Press ( AP) giải thích :”Bạn phải yêu cái nghề này chính vì cần có sản phẩm đúng thời hạn, những cảm xúc thăng trầm, những áp lực đó nhiều khi sẽ trở thành quá mức chịu đựng nếu như mình không yêu nghề. Ảnh báo chí là một lĩnh vực sáng tạo. Nếu ta đến một trận thi đấu và làm được một bức ảnh tốt hay chụp được một chân dung đẹp thì ta về nhà lòng như mở hội, còn nếu ta bỏ lỡ một hình ảnh nào đó thì trở về với tâm trạng nặng trĩu, ê chề.”

Còn J.Pat Carter, phóng viên ảnh AP thường trú tại Oklahoma, lại ví nghề ảnh báo chí giống như người đi dây trong gánh xiếc: “Mọi người đều sợ bạn rơi ngã, nhưng nếu bạn vượt qua được đoạn dây thì họ reo hò, hoan hô và vỗ tay. Mọi nhà nhiếp ảnh đều sống và làm việc vì những tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô ấy.”

Áp lực của tin tức mà bạn tường thuật có thể lại rất nặng nề. Carter nói :”Với chiếc máy ảnh, ta chính là đôi mắt của bạn đọc, của người xem, và ta phải đưa họ đến nơi đó. Nhiều khi tôi cũng thấy khó chịu, vì tôi còn một công việc phải làm. Nếu có lúc nào đó ta không cảm thấy khó chịu, nếu ta không chia sẻ được cái cảm xúc ấy thì ta cũng chẳng có tâm trí, lòng dạ nào để làm công việc của mình. Đâu phải lúc nào ta cũng có thể làm một kẻ chai lì. Ta không thể nào không biết bật khóc.”

Laura Rauch, một phóng viên ảnh của AP đóng tại Las Vegas, được phái đi trợ giúp tường thuật vụ bắn giết ở Trường trung học Columbine gần Denver. Rồi chị quay lại đó một năm sau để tường thuật lễ tưởng niệm đầu tiên. Cả hai lần chị đều có những cảm xúc mất mát lớn lao.

Gia đình của Rauch xuất thân từ vùng ấy, cho nên một phần lịch sử gia đình, một phần sự quen thuộc cũng góp phần vào những cảm xúc ấy. Nhưng thực tế lại lớn hơn thế. “Tôi nghĩ không nhất thiết phải có gia đình ở vùng đó thì mới thấy đau đớn.” – chị nói – “Tôi không cần biết người bị nạn là ai. Cái sự kiện ấy sẽ gây đau đớn bởi chính nó là một thảm kịch.”

Việc tường thuật sự kiện ban đầu và những gì xảy ra sau đó đã khiến Rauch tiếp xúc với những cảnh tượng hết sức đau buồn. Cô nói : “Những học sinh trung học ở độ tuổi vô tư nhất của đời người. Rất nhiều, rất nhiều phóng viên ảnh, kể cả tôi, tất cả đều phải cố chống chọi với nỗi đau buồn ấy. Tôi thỉnh thoảng phải tìm cách nghỉ đi một chút để cho mình được khóc tự nhiên. Tôi cứ buông thả cho cảm xúc chừng đôi phút, rồi kìm nén lại và tiếp tục chụp ảnh.”

Ed Reinke, một phóng viên ảnh AP, nhớ lại một tai nạn xe buýt làm thiệt mạng hơn 20 thiếu niên trên đường từ một công viên giải trí trở về nhà. Sau nhiều ngày tường thuật những cảnh tượng đầy xúc động ở các nghĩa trang, nhà thờ và nhà tang lễ, Reinke cho biết : “Tôi đã đi tới tận cùng giới hạn, không thể chịu đựng thêm nữa, những cảm xúc ấy.” Sau khi câu chuyện dần lắng dịu, giải pháp của Reinke là “nghỉ ngơi vài ngày để ôm lấy những đứa con của mình và thấy rằng mình may mắn biết bao.”

Nhiều năm sau, Rienke đang có mặt ở Nhật Bản để tường thuật sự kiện Olympics thì nhận được tin vợ cùng hai con trai của anh đã bị thương nặng trong một vụ đụng xe dữ dội đến mức phá huỷ hoàn toàn chiếc xe hơi của nhà anh. Rienke trào nước mắt khi nghĩ đến việc mình đang ở xa nhà cả nửa vòng trái đất, đang làm một công tác được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp của mình, trong khi gia đình anh lại đang rất cần anh.

Cái giá của lòng tận tâm, cống hiến cho nghề nghiệp như thế không thể nào đo đếm được.

Có lần, sau năm tuần lễ ròng rã không có nước sạch để dùng trong khi làm phóng sự ở Sarajevo, Jerome Delay, phóng viên AP thường trú ở Paris, gọi điện về nhà và biết rằng chiếc máy giặt của gia đình anh đã hỏng. Anh phải mất một lúc mới nhận ra rằng gia đình mình đang lâm vào một tình cảnh nghiêm trọng. Anh nói :”Mặc dù lúc đó điều này có thể không quan trọng đối với anh vào lúc đó, nhưng lại quan trọng đối với người thân của anh, anh phải tôn trọng điều đó và biểu lộ mối quan tâm cuả mình.”

David Longstreath, cũng là một phóng viên của AP đã gọi đó là trò giữ thăng bằng giữa những trách nhiệm nghề nghiệp và những yêu cầu riêng tư. Longstreath đã tường thuật vụ đặt bom toà nhà liên bang ở thành phố Oklahoma khi anh đang thường trú ở đó. Chỉ mấy phút sau khi vụ nổ bom làm sụp đổ toà nhà, anh đã có mặt tại hiện trường. Một cảnh tượng khủng khiếp đã phơi bày trước mắt anh. Anh nói :”Một trong những điều tôi đã học được sau vụ đặt bom Oklahoma là : Mọi tình huống sẽ tác động đến ta và ta phải nhận thức đúng đắn rằng mình là một con người. Ta có thể đè nén cảm xúc trong khi đang hoàn thành công việc nhưng có lúc ta cũng phải cho phép bản thân mình xúc động nữa.”

Và điều đó có nghĩa là phải duy trì quan hệ giữa cảm xúc của riêng mình với cảm xúc của những người mà ta đang chụp ảnh. Theo Longstreath :” Một khi anh móc chiếc máy ảnh ra là anh đã can dự vào sự kiện. Anh phải chịu đựng gánh nặng của những lời phê phán và những ánh mắt trừng trừng. Anh phải làm công việc chụp ảnh với một mức độ nhạy cảm nhất định.”Việc giữ thăng bằng đối với Longstreath tức là :”phải biết cảm thông với nhu cầu của người khác mà vẫn hoàn thành công việc của mình.”

Michel DuCille của tờ Washington Post nói rằng, bất kỳ lối tiếp cận nào của nhà nhiếp ảnh cũng phải “đối xử trân trọng với các chủ đề và vứt bỏ mọi định kiến có sẵn. Phải có khả năng lường trước được bản chất con người và biết có mặt đúng nơi đúng lúc.”

Còn Delay cho biết ta không những phải cần biết chụp ảnh khi nào và nơi nào, mà quan trọng không kém, còn phải biết nhạy cảm để rút lui đúng lúc. Anh nói :”Nhiều khi tôi tự nhủ thầm: “Hãy để cho họ yên”, nhưng không hề có quy tắc nào cố định ở đây.” Delay đã tự rút ra kinh nghiệm ấy từ những chuyến công tác thường xuyên đến những khu vực hỗn loạn trong vùng Balkan và những điểm nóng khác, nơi mà con người thường có những trạng thái cảm xúc tột độ. Delay nói :”Tự khắc ta sẽ biết khi nào thì nên rút đi. Ta sẽ cảm nhận được điều đó. Ta càng lớn tuổi, càng có nhiều kinh nghiệm, thì trực giác càng ít sai lầm. Ta sẽ biết ngay khi nào thì mình trở thành kẻ xâm phạm. Giống như khiêu vũ với bầy sói vậy.”

Với nữ phóng viên ảnh AP Elise Amendola thì có lúc ta phải biết lắng nghe những cảm xúc cá nhân là trong những tình huống mặt đối mặt với một người vừa mất một người thân yêu trong một tai nạn, một căn bệnh, hay vì chiến tranh.”Amendola kể lại một công tác gần đây của mình khi chị phải chụp ảnh một phụ nữ vừa mất đứa con gái trong một tai nạn xe hơi do thiếu niên bất cẩn gây ra :”Đó là một công tác thường xuyên. Tôi không thể làm tốt việc này nếu không biết cảm thông với người phụ nữ ấy. Và tôi muốn nói là biết cảm thông với một lòng nhẫn nại đích thực, những cái nhìn chia sẻ, và những câu chuyện chân thành. Những phóng viên ảnh chúng ta thường quá hấp tấp. Nhưng trong những tình huống như vậy thì ta buộc phải dành thời gian để thiết lập quan hệ và sự tin cậy. Đó là lúc khả năng biết cảm thông sẽ đặt trái tim ta vào trong nhiếp ảnh.”Amendola khẳng định nếu ta vội vàng hay dửng dưng thì “điều đó hoàn toàn không hiệu quả. Và thái độ đó sẽ bộc lộ rõ trong ảnh của ta.”

Rauch nói “Khi tôi mới vào nghề, tôi cứ cho vai trò của ảnh báo chí là điều quan trọng nhất trên đời.” Năm tháng đã phần nào làm cho chị ôn hoà hơn. Rauch nói tiếp : “Nghề nghiệp cũng quan trọng, nhưng không bao giờ quan trọng hơn những con người mà ta chụp ảnh, không hề.”

Tư duy, dự kiến kế hoạch cộng với một chút may mắn sẽ giảm thiểu khả năng thất bại, nhưng cho dù đó là một nhiệm vụ tột đỉnh trong sự nghiệp, hay chỉ là một phản ảnh của một hội chợ gia súc ở huyện lị, thì người phóng viện ảnh cũng phải luôn sẵn sàng mang về những hình ảnh thực sự có thể thuật lại câu chuyện với độc giả.

Đối với Reinke đó là nghệ thuật “đi theo dòng chảy sự kiện nhưng biết kiểm soát.” Anh còn giải thích :”Tôi nghĩ rằng đó là cuộc săn của con người biết suy nghĩ. Ai cũng có thể chĩa máy ảnh vào những hiện tượng hiển nhiên đang có, nhưng một phóng viên ảnh thực sự giỏi sẽ xem xét tình huống và ánh sáng thực tế, để bổ sung bằng nguồn ánh sáng mà anh ta đang mang trong túi xách, sử dụng những máy ảnh cùng ống kính có sẵn để tạo được bức ảnh khả dĩ tốt nhất từ những gì mình có.”

“Đó là điều phân biệt giữa một nhà nhiếp ảnh giỏi và một người bình thường” – Reinke nói – “Đó là khả năng đi cùng sự kiện nhưng đồng thời cũng có thể hình dung trước sự kiện sẽ đi về đâu.”

Longstreath giải thích cái khả năng kiểm soát “dòng chảy sự kiện” ấy theo một cách khác. Trước một cảnh tượng mới, anh nói :”Ta phải vươn hết ăngten ra, ta nhìn ngắm, ta cân nhắc. Ngay khi ta dò ra hướng mở tức là ta đã tới.”

Còn J.Scott Applewhite của văn phòng AP tại Washington thì nói :” Nếu anh không sẵn sàng khi cơ hội gõ cửa, thì anh sẽ bị bỏ lại đằng sau mà kêu ca, ta thán.”Hay nói như huấn luyện viên Vince Lombardi thường dặn dò các cầu thủ trong đội tuyển Green Bay Parkers lừng danh của ông : “Vận may, đó là sự sẵn sàng gặp gỡ cơ hội.”

Các nhà nhiếp ảnh lớn thường xuất thân từ nhiều hoàn cảnh khác nhau. Thuở nhỏ, nhiều người trong số họ đã bắt đầu chụp ảnh với những chiếc máy ảnh đơn giản, tráng phim trong những phòng tối thô sơ dựng tạm trong những buồng tắm gia đình. Họ theo dõi những bức ảnh hiện hình trong những khay nhỏ đặt chênh vênh trên bồn rửa mặt, trong khi nhiều thành viên trong gia đình đang nôn nóng chờ đợi dùng phòng vệ sinh.

Với Cliff Schiappa, phóng viên ảnh thường trú của AP tại Kansas, nhiếp ảnh quả là một bất tiện khác cho gia đình anh. Trước khi anh đủ tuổi lấy bằng lái xe, Schiappa đã nhận được việc chụp ảnh địa phương hàng tuần. Thế là, bố mẹ thường phải lái xe đưa anh đến nơi công tác và kiên nhẫn chờ đợi trong khi anh chụp ảnh.

Phóng viên ảnh Harry Cabluck của AP bắt đầu sự nghiệp nhiếp ảnh từ trường trung học, khi anh đi tìm các sự kiện tai nạn giao thông với niềm hi vọng có được một bức ảnh. Gia đình anh có một doanh nghiệp chuyên trục kéo các xe hơi bị tai nạn, do đó anh luôn có tin nhắn sớm nhất về các vụ này. Sau đó, anh hay tìm cách bán ảnh cho nhật báo địa phương, hay có thể là một công ty bảo hiểm nào đó. Vào những đêm cuối tuần, anh thường lặn lội dọc theo đường biên của sân bóng trường trung học, chụp ảnh các trận đấu với ánh đèn flash được tiếp điện từ một bình ắc-qui xe hơi tự tạo.

Nhà nhiếp ảnh John Biever của tạp chí thể thao Sports Illustrated cũng khởi đầu sự nghiệp bằng cách chụp những trận bóng bầu dục, nhưng cấp độ cao hơn một chút. Ở tuổi 14, anh phụ việc ở đường biên sân cỏ cho cha mình là nhà nhiếp ảnh Vernon Biever của đội tuyển Green Bay Parkers. Và ngay từ đó, anh đã có ảnh in lớn trọn hai trang trên tạp chí Look với bức ảnh của cầu thủ Bart Starr của đội Parkers danh tiếng.

Bob Daugherty của AP bước vào nghề từ tờ báo và tập san của trường trung học ở Marion, bang Indiana. Nhưng ngay từ tuổi 15 niên thiếu, anh đã được mời giữ một vị trí thường trực trong toà soạn của một tờ nhật báo địa phương. Chẳng bao lâu sau, anh đã làm việc cho tờ báo lớn nhất tiểu bang. Daugherty học nhiếp ảnh bằng cách nghiên cứu các nhật báo ở thành phố Indianapolis. Trong số các phóng viên ảnh ở đó có một người là chuyên gia chụp ảnh không đèn flash trong mọi tình huống, hai người khác “có thể tạo ra phép màu từ một nguồn ánh sáng duy nhất”, theo như lưòi anh kể lại. Sau này, anh lại thường làm việc chung với nhiều nhà nhiếp ảnh mà anh đã từng học tập kỹ lưỡng khi mới vào nghề.

Những người khác, như Reinke, theo nghề ảnh báo chí sau khi nhận được món quà tốt nghiệp trung học là chiếc máy ảnh, và phải nhờ bạn bè hướng dẫn cho cách lắp pin và điều chỉnh khẩu độ, tốc độ. Giáo sư, tiến sĩ Will Counts ở Khoa ảnh báo chí thuộc Đại học Indiana đã dạy anh cách tiếp cận nhiếp ảnh chân thực trực tiếp, và anh đã thành công.

Anh nói về phong cách ảnh của mình: “Điều duy nhất có ảnh hưởng đến tôi là cuốn sách ảnh “Self Portrait USA“ ( Nước Mỹ chân dung tự hoạ ) của David Doughlas Duncan.” Với Reinke, cuốn sách ấy, một tuyển tập những bức ảnh của Duncan chụp từ những hội nghị chính trị đầy biến động năm 1968 ở Chicago và Miami, đã mở mắt cho anh nhìn thấy một phong cách chụp ảnh mà cho đến nay anh vẫn khao khát.

Còn phóng viên ảnh AP Mark Duncan vừa học đại học , vừa lái xe chở xăng dầu cho doanh nghiệp của gia đình mình, vừa chụp ảnh trong thời gian rảnh trước khi trở thành phóng viên ảnh thường trực của tờ nhật báo Dayton Daily News. “Hãy vào đại học và lấy bằng chuyên khoa ảnh báo chí.” – anh thường khuyên các phóng viên ảnh tương lai – “và hãy tìm cơ hội thực tập ở một tờ báo”.

Bản thân Duncan khi học đại học lại theo học khoa công nghệ thông tin.“ Tôi rất biết ơn nền tảng tin học của mình bởi vì công nghệ phát triển tới đâu thì nghề báo phải kịp thời đi theo tới đó. Chuyên môn nghề báo cũng rất quan trọng. Công việc của tôi không chỉ đơn thuần là chụp ảnh mà còn phải phổ biến thông tin.”

Một số nhà nhiếp ảnh như Longstreath lại học hỏi những điều tinh tế trong nghề ở môi trường quân đội, bắt đầu bằng những công tác chụp ảnh tư liệu đơn giản rồi tiến bước vào những nhóm ưu tú chuyên nghiệp chụp ảnh và học tập nâng cao. Từ một khoá nhiếp ảnh trong trường trung học, rồi tới công việc phụ vặt cho một phòng ảnh của FBI, anh gia nhập Hải quân và được đào tạo chính qui, trước khi giải ngũ và chuyển sang làm việc chụp ảnh cho báo chí hàng ngày.

Quân đội đã đào tạo cho anh rất tốt và anh có nhiều cơ hội làm việc với một số nhà nhiếp ảnh xuất sắc, nhưng “ sau nhiều nhiệm vụ ở 33 nước, bản thân tôi đã chứng kiến quá nhiều cảnh li biệt ở cầu tàu.” Chính anh cũng chia tay với quân đội.

Trưởng phòng ảnh John Gaps III của tờ Des Moines Register đã cầm máy ảnh sau giai đoạn làm người đứng trước ống kính thời anh còn làm cầu thủ dự bị cho đội bóng. Gaps kể lại :”Một người chụp ảnh cho tôi xem một số bức ảnh anh ta chụp tôi đang chơi bóng hồi ở trường trung học. Sau đó, tôi ghé vào phòng tối của anh ta xem và thấy nghề này khá hấp dẫn. Rồi có một chiều ở đại học, tôi phải chọn lựa xem hoặc là đi tập bóng hay là phải hoàn thành một đề án để kịp nộp cho lớp nhiếp ảnh.” “Tôi từ bỏ đội bóng để chọn nhiếp ảnh” – Gaps vừa cười vừa nói – “và người huấn luyện viên đội tuyển hết sức ủng hộ.” Gaps cho biết anh chẳng phải hạng cầu thủ hạt giống. Tuy nhiên rất nhiều lần trong sự nghiệp ảnh báo chí của mình, anh đã cùng những chiếc máy ảnh đi tường thuật nhiều trận chung kết bóng bầu dục. Và Gaps bây giờ đã có vô số giải thưởng quốc gia và khu vực cùng những nhiệm vụ đỉnh cao trên con đường nhiếp ảnh của anh.

Rusty Kennedy, một phóng viên ảnh AP, cho biết anh được đào tạo bằng cách làm việc hàng ngày với những nhà nhiếp ảnh kì cựu khi anh nhận công việc lần đầu tiên, rồi sau đó thực tập thường trực trong ban phóng viên ảnh của tờ Philadenphia Bulletine trước đây. “Tôi hết sức may mắn khi được học tập họ. Mỗi người đều có một lãnh vực sở trường. Có người giỏi chụp thời trang, có người giỏi chụp trong studio…Tôi có thể quan sát và học theo rất nhiều điều, rồi tự mình làm thử.”

Nhưng theo Kennedy thì có quan sát hay học từ sách vở thì cũng chỉ có những kết quả tương đối. “Nhiếp ảnh là một môn đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn cho nên ta phải tự làm thì mới thành.”

Còn Longstreath tin rằng có thể học từ mọi điều ta nhìn thấy, và phải cố gắng học hỏi không ngừng. “Ta học bằng cách xem nhiều bức ảnh và tìm hiểu xem người ta đã chụp chúng như thế nào? Những thông tin gián tiếp ấy cũng có ngày hữu dụng.” Nhưng anh cũng tự thấy mình học hỏi được nhiều nhất chỉ bằng cách bấm máy. “Những gì tỏ ra hiệu quả một lần thì có thể sẽ hiệu quả lần nữa một khi ta đã thuần thục.”

Và, ta cần phải biết khắt khe với công việc của mình. Longstreath nói : “Lúc nào mà anh thấy hài lòng với mọi chuyện anh làm thì lúc đó anh bỏ nghề đi là vừa. Phải liên tục, phải không ngừng nâng cao bản thân và nghề nghiệp. Cái tuyệt đỉnh chẳng bao giờ có.”

Với Horst Faas, Trưởng ban biên tập ảnh của AP tại London, ảnh báo chí là một cuộc tìm kiếm không ngừng để truyền thông tốt hơn. Ông nói :“Có thể bạn chỉ đột xuất tuyệt vời trong một ngày hôm nay mà thôi. Nếu vậy thì ngày mai phải lặp lại điều đó.”

Mối dây ràng buộc chung cầm giữ các phóng viên ảnh trụ lại với nghề chính là niềm hân hoan khi nhìn thấy những âm bản trên phim lần đầu tiên – và sau những nhiệm vụ tiếp theo – hay nhìn thấy bức ảnh hình thành trong khay thuốc hiện, hay duyệt qua những phim dương bản đã chụp và nhìn thấy cái tác động của hình ảnh mà họ đã hy vọng. Và bây giờ, trong thời đại kĩ thuật số, nạp vào vi tính chiếc đĩa chứa những hình ảnh khó chụp và nhìn thấy chúng trên màn hình.

Daugherty thì có cảm giác nhiếp ảnh chính là nghề nghiệp dành cho mình khi anh “nhìn thấy bức ảnh đầu tiên in trên giấy hiện ra trong khay thuốc Dekton dưới ánh đèn vàng an toàn. Và khi tôi nhìn thấy bức ảnh ấy trên loạt báo đầu tiên mới in xong.”Anh đã gắn bó với nghề ảnh báo chí từ đó. Daugherty không còn nhớ rõ đó là bức ảnh nào, nhưng anh cười nói : “Tôi tin chắc đó là bức ảnh hay nhất mà tôi từng chụp.”

Sau khi bạn đã thành nhà nhiếp ảnh thì bạn sẽ đi về đâu? Khi mà những người cầm máy ảnh ngày càng trở thành một bộ phận không thể thiếu trong các toà soạn thì càng có nhiều cơ hội cho nghề ảnh báo chí.

Mười năm trước, Baumann không lạc quan mấy về hướng thăng tiến của các phóng viên ảnh. Lúc đó anh đã nói :”Vì chẳng có mục đích thực tế nào, ở nước này ( nước Mỹ) chẳng có chỗ cho nhà nhiếp ảnh thăng tiến ngoại trừ việc trở thành một trợ lý toà soạn giúp biên tập ảnh hay đồ hoạ.”Nhưng giờ đây thì điều đó không còn đúng nữa. Bản thân Baumann và nhiều người khác trong giới phóng viên ảnh đang lãnh đạo nhiều phòng Thư kí toà soạn trên khắp nước Mỹ.

Theo ông Larry Nighswander, Trưởng khoa Truyền thông Thị giác ở Đại học Ohio, những phóng viên ảnh nào tiếp tục được thăng cấp thành những người nắm quyền quyết định ở các tờ báo thì họ cần phải có khả năng truyền thông tốt hơn với các đồng nghiệp. Nighswander nói : “Người phóng viên ảnh và người biên tập ảnh cần phải có một ngôn ngữ chung. Đó là khả năng bộc lộ rõ ràng ngôn ngữ của nhiếp ảnh. Họ phải có khả năng truyền đạt bằng hình ảnh, có thể bình luận về những bức ảnh với các biên tập viên cấp cao hơn, và trong nhiều trường hợp, với cả bạn đọc và người viết tin bài.”

Những nỗ lực muốn tìm tòi sáng tạo hay bố cục đột phá sẽ vô nghĩa nếu như ta không có khả năng lí giải cho việc làm của mình. Nighswander nói : “Với người không nhìn sự việc theo cách của anh ta thì những nỗ lực của anh có thể sẽ chẳng tạo ra hiệu quả. Nhưng nếu anh có thể trình bày rõ ràng mình đang làm điều gì và tại sao lại làm như thế, anh có một cơ hội tốt hơn để giáo dục cho người khác biết được giá trị của nội dung và bố cục.”

Khả năng truyền thông ấy sẽ giúp bạn giành được nhiều kính trọng hơn trong phòng Thư kí toà soạn và dẫn đến nhiều nấc thang thăng tiến cao hơn nữa – nhiều người biên tập đã đồng ý như thế.

Nhà tư vấn đồ hoạ báo chí Bob Lynn – người đã làm sống lại tờ The Virginia – Pilot ở Norfolk, bang Virginia, khi ông làm Trưởng phòng biên tập ảnh ở đó – đã nói :”Khi tranh luận với người biên tập thì phải luôn tranh luận theo cách nói của họ, tức là phải tranh luận về ảnh như là tranh luận về bài viết vậy. Nếu bạn sử dụng cùng ngôn ngữ của họ khi tranh luận thì các biên tập bài sẽ hiểu được lý lẽ của anh.” “Nhưng” – Lynn vừa cười vừa cảnh báo – “anh tranh luận mà dùng những từ ngữ như là ấn tượng thị giác chẳng hạn, thì anh chết chắc.”

Baumann cũng như nhiều người khác, đã thành công bởi vì họ là những người có thể truyền thông tốt. Nightswander cho biết : “Họ đâu chỉ biết nói chúng ta phải phóng bức ảnh này thật to hay thu bức ảnh kia nhỏ lại. Họ là những người biết liên kết hình ảnh và bài viết sao cho tất cả đều có thể tường thuật tốt câu chuyện. Họ muốn đảm bảo cho hình ảnh và bài viết phải phổi hợp với nhau thật tốt để giúp bạn đọc có được một lượng thông tin phong phú nhất. Một khi điều đó đã được xác định rõ thì một tổng biên tập thông minh hay một chủ báo thông minh sẽ nhận ra ngay giá trị của việc có một người đang giúp mình nâng cao cả chất lượng lẫn doanh thu của tờ báo.”

Lynn cũng cho rằng những người biên tập ảnh thông minh cũng có thể tận dụng lợi thế nhờ vốn hiểu biết sâu rộng hơn ở phòng Thư ký toà soạn. Theo Lynn, người biên tập ảnh thông thường làm việc với mọi phòng ban của tờ báo và cả với khâu sản xuất nữa. Lynn cho rằng không ai khác có thể bao quát công việc của tờ báo một cách rộng khắp như thế ngoài người biên tập ảnh. “Là người biên tập ảnh, bạn phải là nhà báo giỏi nhất toà soạn.”

Hal Buell, Trưởng phòng ảnh của AP đã nghỉ hưu, cho biết những người đứng đầu phòng Thư ký toà soạn phải được đánh giá trên năng lực nhà báo của họ, chứ không phải vì họ là người viết giỏi hay người chụp ảnh giỏi. Và Buell cũng tin rằng mãi tới gần đây vai trò của phóng viên ảnh mới được công nhận xứng đáng. “Một người được giao trọng trách quản lý phòng Thư ký toà soạn bởi vì người ấy là một nhà báo giỏi và am hiểu nhiều loại công việc mà chúng sẽ phổi hợp tạo thành cái gọi là tờ báo. Tờ báo phải có bài vở tốt, biên tập tốt, hình ảnh tốt, và cả những dòng tít tốt và cách trình bày tốt nữa. Người biên tập chịu trách nhiệm phòng Thư ký toà soạn cần phải có khả năng bao quát tất cả các công việc ấy.”

Buell nói : “Nhiếp ảnh vốn không được coi trọng bởi vì lý do lịch sử. Báo chí thời ban đầu đâu có hình ảnh nên nhiếp ảnh không có mặt trong quy trình làm báo. Các nhà nhiếp ảnh ở các tờ báo thường chỉ được xem như nhân viên kỹ thuật. Chỉ mãi đến thời gian gần đây thì quan điểm đó mới thay đổi khi nhà nhiếp ảnh được công nhận là nhà báo. Tôi cho rằng việc các nhà nhiếp ảnh xuất hiện trong phòng Thư ký toà soạn đã mở ra một hướng mới cho nhiếp ảnh trên các nhật báo.”

Nhưng Buell cũng cảnh báo rằng, người biên tập xuất thân từ người cầm máy ảnh không được thiên vị hình ảnh, cũng như người biên tập xuất thân từ người cầm bút không được thiên vị tin bài. “Họ được giao trách nhiệm biên tập bởi họ ý thức được thế nào là cách làm báo tốt và trong nghề báo có tính cả nhiếp ảnh.”

Không kể tới những tiến triển trong công nghệ hình ảnh hay máy ảnh, các nhà nhiếp ảnh đã có một truyền thống lâu đời về cách truyền thông bằng ngôn ngữ hình ảnh. Hầu hết họ đều say mê với nghề và tự hoà với việc mình đang làm khi chụp được một bức ảnh tốt. Chỉ một bức ảnh thành công thôi cũng đủ khiến họ tự hào, hân hoan suốt cả tuần lễ. Cái cảm giác phấn khích ấy không bao giờ tan biến. Ngay cả những tay chuyên nghiệp lão luyện nhất, sau những chuyến công tác cực kỳ gian khó, vẫn muốn được nhìn thấy càng sớm càng tốt những hình ảnh đã chụp để xem những ý tưởng của họ đã thành công.

Tường thuật lại bằng chiếc máy ảnh! Tóm giữ một thoáng chốc điển hình để cho nhiều người cùng chiêm ngưỡng! Cái “ Khoảnh Khắc Quyết Định” ! Đó là ẢNH BÁO CHÍ!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: